- tuyên truyền sâu rộng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên, học sinh, sinh viên, gia đình và cộng đồng về các chủ trương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử trong trường học; về mục đích, ý nghĩa, biện pháp, trách nhiệm của nhà …
Các kiến thức khoa học chuyên sâu được truyền thụ tới các sinh viên nhằm đào tạo đội ngũ nhân lực nghiên cứu cho tương lai. Không chỉ dừng lại ở mảng nghiên cứu, các sinh viên cũng được trải nghiệm thực tế qua các hoạt động thực tập tại các đơn vị (3 đợt), niên luận và khóa luận tốt nghiệp.
Nhật xử trường xích du học sinh Việt. Quốc Đạt Thứ tư, 7/9/2022. Nhà chức trách Nhật Bản ra lệnh cấm một ngôi trường ở tỉnh Fukuoka tiếp nhận học sinh nước ngoài trong 5 năm, sau khi nhân viên cơ sở này dùng xích giam giữ một du học sinh Việt. Quyết định trên do Cục
Nghệ thuật vị nhân sinh là khẩu hiệu đấu tranh của những người theo quan điểm văn nghệ mác-xít ở nước ta chống lại phái "nghệ thuật vị nghệ thuật'' trong cuộc tranh luận lớn về nghệ thuật thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 - 1939). Trong cuộc tranh luận này, phái "vị nhân sinh" đã chứng minh rằng không có văn nghệ đứng ngoài đấu tranh giai cấp và không theo khuynh hướng nào.
2, Tác giả thể hiện thái độ buồn phiền và có đôi chút bất lực của mình khi những lời xin lỗi đối với ba mẹ của các bạn trẻ dường như là một phong trào, làn sóng khi các bạn trẻ được gợi nhắc về chủ đề ơn nghĩa sinh thành. 3, Theo em, nguyên nhân của việc
. Chủ đề văn học vị nhân sinh là gì Văn học vị nhân sinh là sự kết hợp giữa nghệ thuật và triết học, nhằm nói lên giá trị nhân văn và ý nghĩa cuộc sống. Tác phẩm văn học vị nhân sinh giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất con người và cách tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống. Cùng với sự phát triển của văn học vị nhân sinh, xu hướng ẩm thực và du lịch cũng đang được khai thác để tăng cường trải nghiệm văn hóa cho người lụcVăn học vị nhân sinh là khái niệm gì? Tác phẩm văn học nào nổi tiếng được coi là tư tưởng về văn học vị nhân sinh? Tác giả nào đã đưa ra lý thuyết văn học vị nhân sinh? Văn học vị nhân sinh ảnh hưởng đến văn học hiện đại như thế nào? Nêu ví dụ về tác phẩm văn học hiện đại mang đậm tư tưởng về văn học vị nhân sinh?YOUTUBE Học Văn Vị Nghệ Thuật Hay Vị Nhân Sinh? 2023Văn học vị nhân sinh là khái niệm gì? Văn học vị nhân sinh là một khái niệm trong triết học văn học, bao gồm ý tưởng rằng nghệ thuật, đặc biệt là văn học, có thể và nên được sử dụng để nâng cao đời sống xã hội và con người, thậm chí đưa ra giải pháp cho các vấn đề xã hội. Để hiểu rõ hơn về khái niệm này, ta cần nghiên cứu và phân tích các tác phẩm văn học có chủ đề liên quan đến vị nhân sinh, như tiểu thuyết \"Truyện Kiều\" của Nguyễn Du hay truyện \"Chí Phèo\" của Nam Cao. Những tác phẩm này tập trung vào việc sử dụng tâm trí và tình cảm để chứng minh mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống con người. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hóa được hiểu theo ba nghĩa rộng, bao gồm cả nghệ thuật, khoa học, công nghệ, văn hóa vật thể; nghĩa hẹp chỉ đề cập đến trình độ học vấn và văn hóa phẩm cá nhân; cũng như nghĩa chung chỉ về toàn bộ văn hóa một dân tộc. Tóm lại, văn học vị nhân sinh đánh dấu sự phát triển và tăng cường sự hiểu biết về nghệ thuật và văn hóa trong đời sống con người, giúp cho mỗi cá nhân hoàn thiện hơn và đóng góp tích cực hơn vào xã phẩm văn học nào nổi tiếng được coi là tư tưởng về văn học vị nhân sinh? Trong văn học Việt Nam, có một tác phẩm nổi tiếng được xem như tư tưởng về văn học vị nhân sinh đó là \"Tắt đèn\" của nhà văn Ngô Tất Tố. Tác phẩm này được viết vào năm 1946, kể về cuộc đời của một người nghèo khổ, luôn phải đấu tranh để sống sót và giành được chút hạnh phúc trong cuộc đời. Bằng cách miêu tả hành trình tim đường sống của nhân vật chính, tác giả Ngô Tất Tố đã khắc họa được những góc khuất trong xã hội như sự bất công, mất cân bằng trong phân phối tài nguyên, cũng như những đau thương của những người lụy tình, lụy danh, lụy tiền. Tác phẩm \"Tắt đèn\" đã góp phần xây dựng lên văn học Việt Nam, đồng thời mang lại sự tiếng tăm cho nhà văn Ngô Tất giả nào đã đưa ra lý thuyết văn học vị nhân sinh? Tác giả đưa ra lý thuyết văn học vị nhân sinh là người Pháp Auguste Comte 1798-1857. Ông là một nhà toán học, vật lý học, thiên văn học, nhà lý thuyết xã hội và triết học thực chứng. Ông khẳng định rằng văn học không chỉ là việc sáng tạo nghệ thuật mà còn là cách để hiểu thế giới xung quanh chúng ta, tác động đến tư duy và hành động của con người. Văn học vị nhân sinh được coi là lý thuyết tổng thể với mục đích nhằm đưa ra những giải pháp cho các vấn đề xã hội và định hướng cho sự tiến bộ của loài người. Tuy nhiên, lý thuyết này hiện tại không còn được sử dụng nhiều trong giới triết học và văn học hiện học vị nhân sinh ảnh hưởng đến văn học hiện đại như thế nào? Văn học vị nhân sinh là một khái niệm được đặt ra bởi nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, để chỉ tầm quan trọng của việc viết văn học đối với cuộc sống và nhân sinh của con người. Văn học vị nhân sinh là sự kết hợp giữa những yếu tố văn học và những giá trị và ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống. Văn học hiện đại Việt Nam đã được ảnh hưởng rất nhiều bởi thế hệ các nhà văn đã bước đầu khám phá và phát triển khái niệm văn học vị nhân sinh. Các tác phẩm văn học hiện đại như \"Dế Mèn Phiêu Lưu Ký\" của Tô Hoài, \"Số Đỏ\" của Vũ Trọng Phụng hay \"Nỗi Buồn Chiến Tranh\" của Bảo Ninh đều có sự hiện diện rõ ràng của tư tưởng văn học vị nhân sinh. Những tác phẩm này là những tác phẩm không chỉ thể hiện một phần cuộc đời và tâm hồn của tác giả mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về tác động của xã hội, của cuộc sống đến con người. Văn học vị nhân sinh là một trong những yếu tố đã giúp cho văn học hiện đại Việt Nam đạt được một vị trí đặc biệt trong cộng đồng văn học quốc tế. Những tác phẩm này đã giúp cho văn học hiện đại Việt Nam được đánh giá là có tính chất sâu sắc và thể hiện được những giá trị đặc trưng của dân tộc Việt ví dụ về tác phẩm văn học hiện đại mang đậm tư tưởng về văn học vị nhân sinh?Một ví dụ về tác phẩm văn học hiện đại mang đậm tư tưởng về văn học vị nhân sinh là tiểu thuyết \"Cho tôi xin một vé về tuổi thơ\" của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Tác phẩm này được xem là một trong những tác phẩm nổi tiếng và gây tiếng vang lớn trong giới văn học Việt Nam. Trong tiểu thuyết, tác giả đã miêu tả cuộc sống và cuộc phiêu lưu của nhân vật chính - một cậu bé trên con đường tuổi thơ, thông qua đó tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn và bảo vệ tuổi thơ trong cuộc sống hiện đại, đồng thời thể hiện tư tưởng về sự trưởng thành và khát khao tìm kiếm về bản Văn Vị Nghệ Thuật Hay Vị Nhân Sinh? 2023Văn học vị nhân sinh luôn là niềm tự hào của văn học Việt Nam. Năm 2023, với sự bùng nổ của văn học trẻ, chúng ta đã có thêm nhiều tác phẩm xuất sắc, lấy cảm hứng từ cuộc sống và mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc. Điều đó giúp khán giả hiểu hơn về tình cảm, nhân sinh và trân trọng thêm tình yêu đất nước. Chủ Nghĩa Vị Nhân Sinh 2023Chủ nghĩa vị nhân sinh đang được nhiều người quan tâm và ứng dụng trong đời sống. Đó là cách sống đạo đức, giá trị tình thương và quan hệ tình cảm giữa con người với nhau và với thiên nhiên. Những tác phẩm mang thông điệp này truyền cảm hứng, động viên và thêm hiểu biết về tầm quan trọng của các giá trị nhân sinh trong cuộc sống. Vũ Trụ Văn Học Môn Văn và Tầm Quan Trọng Với Cuộc Đời 2023Vũ trụ văn học luôn là chủ đề hấp dẫn đối với người yêu văn học và khoa học. Vào năm 2023, một loạt các tác phẩm đa dạng về vũ trụ đã xuất hiện, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vũ trụ và vẻ đẹp của nó. Chúng mang đến những giá trị đáng kinh ngạc, khai sáng và giúp ta cảm nhận được rất nhiều kỳ quan của vũ trụ.
Mỗi người cầm bút thường chọn cho mình một hướng đi. Một số người sử dụng cây bút để đạt được danh tiếng như một nhà văn hoặc nhà thơ. Có những người không cần chữ, chỉ muốn cầm bút tự sướng, cứ thế viết mà không cần biết cuộc sống xung quanh mình ra sao, tả cảnh tùy ý, trong khi đạo đức xã hội sa sút, nhưng cái tình, cái cảnh thì vẫn đẹp trong giấc mơ selfie của tôi. Có những nhà văn vì muốn đóng góp khả năng của mình để mở mang dân trí. Ở nước ngoài, những người thích danh hiệu nhà văn hoặc nhà thơ nên trả tiền cho ai đó để viết một tác phẩm cho họ, sau đó ghi tên họ vào đó và để người khác cổ vũ cho họ để đạt được danh hiệu trong văn học. .Hay tự viết một vài tác phẩm, rồi sau khi đạt danh hiệu “nhà văn”, “nhà thơ”, bạn không còn đủ tâm trí để sáng tạo thêm nhiều tác phẩm nữa. Ngay cả những bình luận kiểu “nhà văn, nhà thơ” trên facebook fb này cũng chỉ là chia sẻ share bình luận hiện tại của người khác; và những “nhà văn, nhà thơ” này không chỉ là những bình luận thông thường như bao người vài lời, thêm Chưa kể những bài viết có giá trị, không thể viết bình luận tử tế trên fb của họ. Những người khác đang ở trên fb. Bạn đang xem Văn học vị nhân sinh là gì Ở Trung Quốc, những “nhà văn và nhà thơ” tự lập cứ xuất bản những bức chân dung tự họa mà không cần biết xã hội ra sao. Cả nước mất quyền lực dấu ngã cố ý và mất tự do, nhưng những “nhà văn, nhà thơ” này vẫn luôn tự hào về bản thân và ca ngợi chiến công của họ. Cả nước đang bị đô hộ bởi kiểu Tân Trung Hoa, các ông hoàng thời hiện đại thì dốt nát, nhưng những “văn nhân, văn sĩ” này lại nghiễm nhiên “yêu nước” như thiếu niên, yêu mù quáng, mê muội mãi không thôi. Trong khi gia tài đã bị csvn cuỗm mất, cũng không có gì phải khoe khoang. Hãy loại bỏ những “nhà văn, nhà thơ” theo cách nói của alan phan không có đất dụng võ, đối với những nhà văn, nhà thơ thực sự tài năng, câu hỏi đặt ra cho những người này, hay cho những ai muốn chọn văn và thơ ca là Nơi mở mang dân trí – giữa văn học cho con người và văn học nghệ thuật, trong sáng tác, nên chọn cái nào? Văn học luôn phản ánh hiện thực xã hội. Tất cả những tác phẩm có giá trị trong lĩnh vực văn học đều là những tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội mà tác giả đang sống. Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi những nhà văn tài năng nhìn ra được nỗi thống khổ của đất nước, của xã hội, thấy được những con người cần được ghi nhận, họ gửi gắm tình cảm của mình vào tác phẩm để chia sẻ với những con người đang sống trong xã hội ấy, hay cho những thế hệ mai sau. những sự kiện có thật của một đoạn lịch sử đã xảy ra trong xã hội đó, đất nước đó, con người đó. Khi viết những tác phẩm phản ánh sự thật xã hội, người viết không đặt mục tiêu đoạt giải thưởng văn học nghệ thuật. Trái tim nhà văn rỉ máu trước hiện thực xã hội. Từ sự đổ máu đó, tác phẩm này ra đời, bằng cả trái tim và tâm hồn tác giả dành cho tác phẩm, cho tiếng nói của những người không thể thể hiện được qua chữ viết. Tác giả muốn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh mọi người – để thay đổi xã hội, thay đổi lối suy nghĩ phi nhân văn hiện có, và tạo ra một xã hội tiến bộ hơn, nhân văn hơn. Sự xuất hiện của nhóm Tự lực văn đoàn từ năm 1932 đến năm 1942, và những tác phẩm đổi đời như “Hồn bướm”, “Giấc mơ cổ tích”, “Ngày tận thế”, “Banchun”, là những tác phẩm tiêu biểu. về thực tế. xã hội. , đã nói lên chân lý của con người thì mọi người trong xã hội đều phải đối mặt với nó và phải lựa chọn giải pháp cho mình. Mục tiêu đầu tiên của sự tự lập của Van Dogan là mỗi thành viên phải tạo ra cho mình một tác phẩm văn học có giá trị. Nhưng để làm được điều này, tác phẩm phải phù hợp với cuộc sống, xã hội hiện tại. Chính ở điểm này, một số tác phẩm của nhóm Tự lực văn đoàn Fan Duoan được đưa vào danh sách những tác phẩm đáng đọc, có giá trị văn hóa nghệ thuật. Văn học luôn phù hợp với cuộc sống ngày nay. Trước thực trạng băng hoại của xã hội, văn học miêu tả sự băng hoại của xã hội, tác giả đã đặt câu hỏi về vấn đề băng hoại trên và đưa nó vào tác phẩm của chính mình. Không chỉ đơn giản ghi lại sự tham nhũng đó, tác giả quan tâm đến sự thối nát đó và muốn tìm ra giải pháp thông qua tác phẩm của chính mình, hoặc tự đặt câu hỏi cho độc giả. .Chính cuộc sống hiện tại mang đến cho cuộc sống, sự thật, tính nhân văn hay sự tàn nhẫn được phơi bày trong tác phẩm, và theo thời gian tác phẩm trở thành hương vị của nghệ thuật. Sau đó, văn học bắt đầu với cuộc sống của con người. Không có con người, không có yếu tố hiện thực của xã hội, văn học trở thành văn chương khập khiễng, lạc lõng. Một nhà văn sẵn sàng đi lạc khỏi sự thật để tâng bốc sự giả dối, điều không xảy ra trong xã hội ngày nay – đây là một nhà văn bệnh hoạn, vô nhân cách; con người, nhưng quá nông nổi, không cảm nhận được sự khốn cùng của xã hội để thể hiện đúng thực tế của xã hội. Văn học xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một ví dụ điển hình. Ngoài các tác phẩm Trăm hoa đua nở ở miền Bắc sau năm 1954, và phong trào văn học nghệ thuật của Nguyễn Văn Lâm năm 1985 – thì vẫn còn nguyên giá trị văn học vì những tác phẩm này nói lên sự thật của xã hội và những trăn trở. của tác giả, và phần còn lại đều là Công việc bệnh hoạn. Bệnh đến mức nhà phê bình văn học nổi tiếng Cui Leiwang tin rằng khi người ta ăn cắp thơ của người khác và chỉnh sửa để nó có giá trị hơn thì người ăn cắp thơ cũng được coi là một người tài năng. Ngay cả trong lĩnh vực văn học, nơi sự ăn cắp đáng được ca ngợi, thì văn học xã hội chủ nghĩa cũng chỉ là thứ văn học bị ăn cắp một cách bệnh hoạn. Ca ngợi kẻ trộm làm cho bài thơ có giá trị hơn, hoặc có lẽ khuyến khích đạo văn. Nhưng nếu nó là đạo văn, nó không phải của bạn – nếu nó bị ăn cắp, nó vô giá trị. Có lẽ quan điểm về văn học xã hội chủ nghĩa khác với thế giới. Cũng như bản chất của chủ nghĩa xã hội cũng khác với xu thế thế giới, nên không có gì ngạc nhiên khi đánh giá văn học xã hội chủ nghĩa. Tại thời điểm này, câu trả lời đã rõ ràng. Văn học bắt đầu từ cuộc sống của con người, phục vụ cuộc sống của con người, và phục vụ con người. Giá trị nghệ thuật có được nếu tác giả biết lồng ghép đời sống con người vào tác phẩm của mình, tạo nên một tác phẩm chân thực mô tả đời sống xã hội mà tác giả đang sống và truyền lại cho thế hệ sau. Nếu văn học chẳng qua là thứ tự luyến, thì văn hóa của một dân tộc là thứ văn hóa giả dối, thứ văn hóa bệnh hoạn. Nhưng quốc gia nào thoát khỏi thứ văn hóa bệnh hoạn này thì sớm muộn gì cũng diệt vong. Liệu dân tộc Việt Nam, với nền văn hiến hơn năm, liệu có tồn tại được trong vài trăm năm tới, hay sẽ trở thành một mảnh ghép của dân tộc Trung Hoa? Đây là câu hỏi mà tất cả người Việt Nam trên toàn thế giới vẫn đang quan tâm đến sự tồn vong của dân tộc Việt Nam và cần tìm câu trả lời cho chính mình và dân tộc mình. Vua của bộ tứ Tháng 8 năm 2016 Dallas, TX
Tia sáng dành cho bạn trẻ số 1, ngày 25-5-2002, đăng bài dịch một bức thư Mỹ “có rồi hẵng cho” với lời đề tựa đầy ấn tượng “Xin mọi người đọc thuật kỹ và thật bình tâm, đặt một ấm nước, lúc đọc xong là lúc nước sôi, pha bình trà, uống và ngẫm nghĩ về người Mỹ, về quan điểm đạo đức xem nó ra răng”. May mắn là bức thư khá ngắn nên đọc không mất nhiều thời gian cho lắm. Tuy nhiên vấn đề nó đặt ra thì không hề đơn giản là sáng tạo có vị nhân sinh hay không. Tôi xin mạnh dạn trình bày quan điểm cá nhân về vấn đề thú vị này, với mục đích góp thêm một tiếng nói nhằm rộng đường dư tắc đạo đức mới là gì?Đó là bức thư của H. Ayn Rand, người Mỹ gốc Nga, tác giả của nhiều cuốn sách, gửi Tom Girdler, nhà sản xuất thép người Mỹ. Quan điểm của Ayn Rand là “có rồi hẵng cho”, về thực chất là một quan điểm đúng đắn. Vấn đề là dường như Ayn Rand cho rằng, “có” ở đây chỉ là có các sản phẩm vật Rand viết “Sai lầm lớn nhất của thế giới chính là ở chỗ chúng ta đã chấp nhận và tin rằng chủ nghĩa vị nhân sinh, tức là lấy việc phục vụ người khác như một nguyên tắc tối cao và coi việc đặt người khác lên trên bản thân mình là một biểu hiện của đức hạnh”. Và “chúng ta luôn được dạy dỗ rằng, đức hạnh cao nhất là “cho”, chứ không phải là “tạo”. Nhưng người ta không thể cho cái chưa được tạo ra. Do vậy nhu cầu về người sáng tạo phải có trước nhu cầu về người hưởng lợi. Người sáng tạo phải đứng trên bất kỳ người theo chủ nghĩa vị nhân sinh nào humanitarian”.Theo Ayn Rand, những nhà sáng tạo và sản xuất như Thomas Edison hay Henry Ford không đặt ra mục đích sáng tạo vì con người. Khi Edison phát minh bóng đèn điện, ông không nghĩ tới những người dân nghèo khó. Girdler sản xuất thép chỉ để sản xuất, chứ không phải để bán thép rẻ cho mọi người. Những người như Girdler “không bị dao động bởi cái động cơ phục vụ người khác mà cả thế giới tin vào”, họ sáng tạo chỉ để sáng tạo, “chỉ đi theo một động cơ đơn giản, mang tính cá nhân, đi theo một tình yêu ích kỷ và cao quí đối với công việc của chính mình. Đó chính là động cơ đạo đức chân chính nhất và là đức hạnh lớn nhất của con người”.Hơn thế nữa, khi Girdler viết trong cuốn Quyền được lao động của mình rằng “Tôi phản đối bất cứ ai có quan điểm rằng những người như tổng thống Roosevelt là những người đáng kính hơn, tốt hơn ít vụ lợi hơn người khác, bởi vì họ không phải có nghĩa vụ kiếm sống”, Ayn Rand cho rằng Girdler chưa đi đến rốt ráo vấn đề. Ông “phản đối bất cứ ai có quan điểm rằng nhà chính trị và những người làm công tác xã hội không tồi tệ hơn những người phải lao động để kiếm sống”. Vì thế ông nhấn mạnh, “những kẻ theo chủ nghĩa nhân văn – trên nguyên tắc và cả trên thực tế - là những kẻ ăn bám bởi mối quan tâm hàng đầu của họ là phân phát chứ không phải là sản xuất; nói đúng ra thì là quan tâm đến việc phân phát những gì mà họ không sản xuất ra. Những kẻ ăn bám thì không bao giờ đáng kinh hay tốt cả”. Và Ayn Rand kết luận, những nhà sản xuất như Girdler không bao giờ chứng minh được rằng họ tốt hơn nhiều, đáng kính trọng hơn nhiều những người làm công tác xã hội và chính trị, “cho đến khi chúng ta có một nguyên tắc đạo đức mới”!Đầu tiên tôi muốn lưu ý rằng người dịch không thấy đề tên rất vội vàng trong việc thuật và công bố bức thư, có thể do quá say sưa với nó. Vì thế ngay tựa đề cũng mang màu sắc văn nói. Sao không dịch là “Có rồi hãy cho”? Rồi những câu văn thiếu trong sáng, lặp từ, không gẫy gọn....Đầy rẫy trong bức thư chỉ mấy trăm chữ. Phải chăng quan điểm của Ayn Rand mang tính đột phá tới mức, khi đọc và lĩnh hội nó người dịch dường như mất tự chủ, mất sự phê cần thiết – nguyên tắc hàng đầu của thao tác nghiên cứu khoa học? Thiết nghĩ có gì khó khăn lắm đâu trong việc nhận chân cái quan điểm dường như rất “tân kỳ” của Ayn nói ngay rằng, thực chất nguyên tắc đạo đức mới của cái bà người Mỹ gốc Nga đó là, phải “tạo” hay “sản xuất” mới là người tốt. Còn người theo chủ nghĩa nhân văn và hoạt động xã hội, gồm cả nhà chính trị, là kẻ ăn bám, vì họ chẳng tạo hay sản xuất cái bóng đèn như Edison hay cái ô tô như Ford. Họ chỉ dây máu ăn phần khi phân phát cái mà họ không tạo hay sản xuất được! Muốn biết quan điểm này đúng sai, ta hãy đem nó áp dụng vào thức hạn ngay chính tại Mỹ, chỉ khoảng 20% dân số là người tốt, vì họ sản xuất. Còn 80% còn lại là kẻ ăn bám vì họ chỉ làm dịch vụ, phân phối, thậm chí chỉ viết văn làm thơ, hoạt động xã hội, tôn giáo và từ thiện hay những việc “ăn bám” khác. Rồi cái nước Mỹ giầu mạnh kia, họ sáng tạo nhiều và sản xuất đến một phần ba của cải toàn thế giới, chắc chắn họ đáng kính và tốt hơn những nước sáng tạo và sản xuất ít hơn, chẳng hạn như Việt Nam. Và Bill Gates thì tốt hơn Mẹ Teresa, vì vị nữ thánh thì chẳng sản xuất được gì ngoài việc mang tình thương đến cho dân nghèo Ấn Độ trong tư cách một người nhân văn chủ nghĩa, tức đích thị là kẻ ăn bám!Đó là cái gì nều không phải là nguyên tắc tôn thờ vật chất và rẻ rúng các giá trị tinh thần của giới trọc phú Mỹ? Rõ ràng tác giả bức thư rất thiều hiểu biết về hoạt động của xã hội loài người, nhất là khía cạnh phân công lao động và hợp tác cùng có lợi. Và thật đáng tiếc, tuy là nhà văn những Ayn Rand lại khinh rẻ chủ nghĩa nhân văn, khinh rẻ lòng tốt và chủ nghĩa vị nhân sinh – điều ngược với thiên chức của văn học. Tôi là nhà vật lý nên không dám tranh lời các văn nghệ sĩ mà chỉ bàn luận trên góc độ khoa học tự nhiên, theo tinh thần tích hợp văn hoá đang được chuộng trên toàn thế giới, mà ở đây là thuyết tiến hoá Darwin, được xem là có ảnh hưởng lớn nhất tới tư duy hiện đại theo tạp chí Người Mỹ khoa học, số 7-2000.Theo thuyết tiến hoá, con người có bản năng thiện tính, xuất phát từ thực tế là chúng ta được tự nhiên trang bị kém nên không thể tự phục vụ cho mọi nhu cầu cá nhân. Và đó là lý do giống như các động vật xã hội tính khác, chúng ta chỉ tồn tại được khi đảm trách một nhiệm vụ cụ thể theo sự phân công lao động, nguồn gốc của sự hợp tác xã hội. Như đối tượng của tiến hoá, sự tồn tại của một xã hội phụ thuộc chủ yếu vào sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên. Sự hợp tác cũng có vai trò quan trọng không kém sự cạnh tranh trong việc thúc đẩy xã hội loài người. Và sự hợp tác thì nhất định dựa trên lòng vị than. Nói cách khác, quá trình tiến hoá cổ vũ lòng vị tha, sự phân công lao động và sự hợp tác cùng có lợi thuyết tiến hoá hiện đại hoá, cho rằng không chỉ các cá nhân mà các nhóm xã hội cũng là đối tượng của tiến hoá xem Cấu trúc thuyết tiến hoá, NXB Belknap, 2002. Có nghĩa lòng tốt và chủ nghĩa nhân văn có nguồn gốc rất sâu xa từ chính quá trình tiến hoá và là những tính chất căn bản giúp con người có thể sinh tồn và phát triển. Vì thế đối lập sự sáng tạo với chủ nghĩa nhân văn là một sai lầm không thể chấp nhận được về mặt khoa mặt đạo lý, xem những người nhân văn chủ nghĩa là ăn bám cũng là sai lầm nghiêm trọng. Tự do, bình đẳng, bắc ái chính là tiêu chí căn bản của một xã hội bắt đầu hiểu bản chất con người. Chúng ta sinh ra ai cũng có quyền bình đẳng, nhưng tạo hoá không thể công bằng với mỗi một cá nhân. Tạo hoá không thể phân phát trí tuệ và kỹ năng như nhau cho tất cả mọi người. Chúng ta không thể chọn cha mẹ, chọn gia cảnh để sinh ra. Có nghĩa con người sinh vốn lại không bình đẳng. Vậy thì ai sẽ mang lại cho chúng ta sự bình đẳng nếu không phải là những người theo chủ nghĩa nhân văn- những người quan tâm không chỉ tới những cá nhân xuất chúng mà còn tới từng mảng đời bất hạnh – nền tảng quan trọng của một xã hội tìm kiếm sự công bằng? Và để đảm bảo sự đánh giá công bằng đối với ngưới sản xuất, có thể dẫn ra một quan điểm, ai đóng nhiều thuế và tạo nhiều việc làm cho xã hội là người tốt. Giá trị của một người chính là ở chỗ người đó phục vụ xã hội như thế nào. Mà phục vụ thì không chỉ là “Tạo” hay “sản xuất”, mà quan trọng hơn cả là tổ chức được một xã hội dân chủ, công bằng, phát triển và văn minh, nơi lợi ích riêng của mỗi cá nhân kết hợp nhuần nhị với lợi ích chung của toàn xã hội. Sẽ sai lầm nếu cho rằng sức sống của nhà sáng tạo hay nhà sản xuất lâu bền hơn của nhà chính trị. Truyền thuyết Nghiêu thuần xưa là một trong những bằng chứng rõ ràng cho điều đó. Cũng xin nhắc lại chuyện cũ tại nước ta hơn mười năm trước. Khi đó có người cho rằng văn nghệ và chính trị đều là những hình thái ý thức xã hội nằm trên thượng tầng kiến trúc nên chỉ tác động qua lại chứ không thể chi phối nhau. Có thể họ đã nhầm giữa chính trị và tư tưởng chính trị. Với tư cách toàn bộ những hoạt động có liên quan đến mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xã hội, chính trị có khả năng chi phối hầu như tất cả các hoạt động, kể cả năng lực sáng tạo của xã hội. Đó là lý do Nguyễn Trãi phò Lê Lợi hay Ngô Thì Nhậm theo Quang Trung. Phò chính thống là nét tự nhiên của trí thức, vì như thế họ sẽ có điều kiện phục vụ xã hội và con người, cũng như phổ biến cái đạo của họ một cách trực tiếp, thuận lợi, nhanh chóng và rộng rãi nhất. Kẻ sĩ xưa luôn tìm minh chủ để phò, vậy nay minh chủ là ai? Xin được trở lại chủ đề khi có xin nói thêm, “nguyên tắc đạo đức mới” đó chắc chắn bị phản đối ngay tại nước Mỹ. Nên biết rằng chính Edison quan tâm sâu sắc tới nhu cầu xã hội, tớ người nghèo bằng nhiều phát minh cụ thể như nhà bê tông đúc sẵn, phao cứu sinh cho lính thuỷ thời Chiến tranh thế giới thứ II, qui trình tuyển Quặng ít ô nhiễm, ô tô điện,...xem Người Mỹ khoa học, số 2-1997. Ông chính là một người vị nhân sinh chân chính với tất cả những gì cao quí nhất cần phải có. Hay Bill Gates đã lập quĩ từ thiện hàng tỷ đô là và tuyên bố đến 50 tuổi sẽ hiến toàn bộ tài sản cho quĩ này. Còn theo Michael Dertouzos, người đã hơn 30 năm lãnh đạo Phòng thí nghiệm khoa học tính toán, Viện công nghệ Massachusetts, một cái nôi của công nghệ thông tin, thì phương Tây đã sai lầm khi chia tách công nghệ và chủ nghĩa nhân văn 300 năm trước; và nay chính là thời khai sáng mới để nhập chúng lại với nhau xem Người Mỹ khoa học, số 7 – 1997 và Time, số đặc biệt tháng 1 – 1998. Không nên quên rằng, chủ nghĩa đơn phương... mới chỉ là một nửa sự thật về người Mỹ. Một nửa khác nằm ở Luther Kinh, Morrison, Edison và hàng triệu người nhân văn chủ nghĩa yêu công lý, chuộng tình thương và giầu lòng sáng tạo khác. Muốn “ngẫm nghĩ về người Mỹ, về quan điểm đạo đức xem nó ra răng”, cần suy nghĩ nghiêm túc, toàn diện và sâu sắc, chứ không thể tuỳ tiện và giản lược như cái bà người Mỹ gốc Nga ấy được. Và cho dù con người và xã hội Mỹ có hay đến đâu chăng nữa, những cái hay đó chưa chắc đã hợp với con người và xã hội khác, nhất là với phương nhu cầu của con ngườiNói đi thì cũng cần nói lại, tác giả Ayn Rand cũng có điểm đúng khi cho rằng trong lúc sáng tạo, những nhà sáng tạo chỉ đi theo một động cơ cao quí, có tính ích kỷ và đậm màu sắc cá nhân đối với công việc của riêng mình. Như lời Nguyễ Khải, trí thức là kẻ đại ích kỷ, bản thân hắn mà hắn còn không quan tâm ăn uống thất thường, lười tắm rửa, quần áo lôi thôi..., vậy hắn quan tâm được đến ai! Ta cũng thường nghe nói tới tháp ngà sáng tạo. Có thể hiểu rõ hơn điều đó khi nghiên cứu thang nhu cầu của nhà tâm lý Abraham Maslow 1908 -1970.Theo Maslow, nhu cầu con người được xếp thành hệ bậc thang. Tuỳ cách trình bày mà ta có thang năm hay thang bảy bậc, trong đó thang bảy bậc thì tiện lợi hơn. Bậc dưới cùng là các nhu cầu sinh lý như đói, khát, nóng, lạnh....Bậc thứ hai các nhu cầu an toàn và an ninh. Bậc thứ ba là các nhu cầu của cải, tình yêu và được thừa nhận. Bập tiếp theo là nhu cầu được kính trọng. Tiếp nữa là nhu cầu nhận thức Muốn biết, muốn tìm hiểu và khám phá. Cao vũ trụ như tính đối xứng, sự trật tự và vẻ đẹp ẩn giấu dưới những biểu hiện đó. Và ở bậc thang cao nhất là nhu cầu khám phá đến tận cùng khả năng đơn nhất của bản thân, theo nghĩa nó khác biệt với tất cả các cá nhân khác. Đạt tới bậc thang này là những người biết sử dụng một cách khác thường toàn bộ năng lực bản thân. Theo Maslow, đó là Spinoza, Jefferson, Lincoln, Einstein, Edison hay Roosevelt...Và đáng buồn thay cho Ayn Rand, trong số các đặc tính của những nguời tự biến thành hiện thực đó, ngoài khả năng văn xem Nhập môn Hilgard của tâm lý học, NXB đại học Harcourt Brace, lần xuất bản thứ 12, 1996, trang 446-467. Vì lẽ đơn giản sáng tạo không chỉ là công việc của bộ óc mà còn của trái tim. Những người có khả năng sáng tạo nhất cũng chính là những người có tấm lòng nhân bản, vị tha, vị nhân sinh nhất. Họ chỉ sáng tạo càng nhiều càng tốt mà không quan tâm tới việc bản thân được xếp ở đâu trong ký ức xã hội. Và họ cũng khiêm nhường không tự cho mình cao quí, đáng kính trọng, tốt hơn những người khác. Nếu thiếu tính khiêm nhường và lòng khoan dung, thiếu sự nhạy cảm với nỗi đau của con người, nếu ích kỷ và khoa trương, chắc chắn họ không thể sáng tạo. Thêm một lần nữa chúng ta thấy, đối lập sức sáng tạo với chủ nghĩa nhân văn là quan điểm không thể chấp nhận được. Vậy xin Ayn Rand và những ai đồng ý kiến hãy yên lặng để những con người xuất chúng đó thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng là cống hiến toàn bộ năng lực tuyệt vời của mình cho hạnh phúc toàn nhân loại. Chỉ theo nghĩa đó họ mới đáng kính trọng, mới là người tốt trong mắt mỗi chúng nói thêm là như bất cứ một lý thuyết tâm lý nào khác, thang nhu cầu Maslow cũng chịu nhiều chỉ trích. Người ta cho rằng, Maslow đúng với các cá nhân xuất sắc nhất, thành đạt nhất phương Tây. Với các cá nhân và các xã hội khác, thang Maslow không hoàn toàn đúng nữa. Và điều đó đúng với bản chất con người, đúng với bản chất của văn hoá. Con người và các nền văn hoá có nhiều nét khác biệt đến mức, ngoài một số chuẩn mực chung, không thể có một thang giá trị dùng được cho tất cả mọi người và mọi nền văn hoá. Ayn Rand đã rất sai lầm khi mang những tiêu chí đúng cho dưới 1% dân số ra để bắt hơn 99% còn lại phải theo, trong khi ngược lại mới là chuẩn đó có nghĩa cần loại bỏ thang Maslow? Không hẳn như vậy, nó vẫn có thể dùng như một tham khảo tốt. Chẳng hạn dựa vào đó có thể lý giải tại sao Tolstoy viết được Chiến tranh và hoà bình, vì ngoài những điều kiện khác, ông may mắn vượt qua năm bậc thang đầu tiên. Và đó cũng có thể là một lý do giải thích tại sao chúng ta chưa có một tác phẩm văn học xứng tầm với cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Thang Maslow mang nét duy vật và là minh hoạ tốt cho tinh thần của ông cha ta “có thực mới vực được đạo”.Nghệ thuật vị cái gì?Vấn đề chưa dừng ở đó. Trong bài “Sáng tạo, nhu cầu người nhất của con người” trên Tia sáng dành cho bạn trẻ số 2, một nhà văn đoạt giải thưởng nhà nước nhưng không nhận quay trở lại cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh trên văn đàn nước ta 70 năm trước. Ông kể rằng năm 1992, trong cuộc hội thảo kỷ niệm 50 năm ngày thành ra đời cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, ông đã mạo muội hỏi các nhà lý luận phê bình văn học rằng, tại sao với quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật sai lầm, Hoài Thanh lại chọn được 45 nhà thơ tiêu biểu mà ngày nay chỉ thấy rơi rụng đâu có 5-7 người. Có nghĩa sự đánh giá và chọn lọc của cái ông chủ trương quan điểm nghệ thuật rất đỗi suy đồi ấy về cơ bản là chính xác! Còn những nhà phê bình kiên định quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh thì chẳng làm được cái điều tương văn của chúng ta cho rằng, chỉ có hai cách lý giải hiện tượng nhất, Hoài Thanh không hề thực sự chủ trương “nghệ thuật vị nghệ thuật” mặc dù ông có tự nhận như vậy. Thậm chí sau này dưới sức ép nào đó, ông còn mấy lần công khai bầy tỏ sự hối hận sâu sắc về sai lầm chết người này. Thứ hai, quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của ông là đúng, đúng đến nỗi ông là người duy nhất nhận ra chân lý. Nhà văn nhấn mạnh, ông thiên về khẳ năng thứ hai, tức xem nghệ thuật vị nghệ thuật là đúng. Điều đó cũng có nghĩa nghệ thuật vị nhân sinh là sai, dù ông không nói thẳng như vậy. Nhà văn đi đến kết luận này sau khi “đọc thật chậm” thư của Ayn Rand, cho thấy ông đồng ý với quan điểm rằng, con người đã rất sai khi coi trọng chủ nghĩa vị nhân sinh. Vị nhân sinh sai vậy vị nghệ thuật phải đúng! Rõ ràng dù đã đọc thật chậm những nhà văn vẫn bị lừa khi không biêt chính ông cũng bị xếp vào hạng ăn bám, vì Ayn Rand chỉ nói về “tạo” hay “sản xuất” các giá trị vật chất mà theo nhà văn cho rằng, “khác với những điều vẫn thường được rao giảng ra rả về “sự phục vụ”...bản chất của nghê thuật là thuần tuý, thuần tuý vì chính nó”. Do đó ông đồng tình với Ayn Rand "Hãy vì chính mình mà sáng tạo trước đã, để có rồi hẵng cho!”. Và ông cũng kêu gọi một nguyên tắc đạo đức mới, “một nguyên tắc đạo đức thật, không giả vờ, không dối trá, không mị dân”, trước khi hoà giọng cùng Ayn Rand phê phán những kẻ ăn bàm mà theo ông thì “có bao giờ thiếu” và lắm mồm hơn tất cả”.Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa trước khi bàn về học thuật rằng, nhà văn của chúng ta chưa hiểu quan điểm của Ayn Rand, cái quan điểm mà lẽ ra với tư cách một nhà văn có thiên chức đề cao chủ nghĩa nhân văn, ông phải kịch liệt phê phán và bác bỏ. Chẳng lẽ chỉ vì sự giống nhau ở lớp vỏ ngôn ngữ của thuật ngữ “vị nhân sinh” mà ông lại nhầm lẫn đến vậy?Quay trở lại với vị nghệ thuật hay vị nhân sinh, đầu tiên chúng ta cần nhìn cuộc tranh luận giữa Hải Triều và Hoài Thanh bằng con mắt lịch sử. Nhớ tới cảnh nước mất nhà tan, dân ta rên xiết dưới ách nô lệ, thực dân Pháp thì bày đủ trò để thanh niên ta quên nỗi nhục mất nước mà tiêu tan ý chí đấu tranh, ta sẽ hiểu vì sao Hải Triều được ủng hộ. Tiếp theo, không như nhà văn quả quyết rằng, đánh giá chính xác của Hoài Thanh chỉ có thể do quan điểm vị nghệ thuật là đúng, quan điểm vị nhân sinh là sai; tôi cho rằng tính chính xác đó xuất phát chủ yếu từ con mắt xanh, từ khả năng cảm thụ và phát triển của nhà phê bình. Rất nhiều người khác cũng vị nghệ thuật, tại sao họ không thẩm định được như Hoài Thanh? Quan điểm nghệ thuật chỉ là kim chỉ nam mà thôi, muốn đến được Nam Cực, cần thêm rất nhiều thứ khác ngoài cái la bàn. Chỉ với quan điểm nghệ thuật đúng mà thành công trong lý luận phê bình văn học thì có lẽ cả nước trở thành phê bình! không nên quên rằng việc cảm thụ văn chương độc lập tương đối với trình độ học thuật của người thưởng thức. Người bình dân Việt Nam xưa trình độ thấp, quan điểm nghệ thuật không thể xem là chuẩn xác. Nhưng điều đó không ngăn cản việc họ sáng tác được cả một kho tàng tục ngữ, ca dao vô giá; không ngăn cản việc họ thưởng thức Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm hay thơ Hô Xuân Hương. Đó chính là sự kỳ diệu của văn chương, nghệ thuật –sự kỳ diệu của điều giản đơn ai cũng có thể hiểu, theo lời Einstein ca ngợi vua hề Charlot, tất nhiên là với mức độ khác cho đến tận hôm nay mà vẫn còn băn khoăn xem nghệ thuật vị cái gì thì thật là khác thường. Cũng chẳng biết nói sao nữa khi nhà văn cứ nhất định cho rằng một số nhà khoa học vị nhân sinh giải thích hình vẽ các con vật trên vách hang động là để người nguyên thuỷ tập bắn, tập đâm chúng, luyện khả năng cho các cuộc đi săn. Nhà khoa học nào giải thích như vậy? Và tại sao ông dị ứng với vị nhân sinh đến vậy?Tôi nghiên cứu vật lý nên không rõ nghệ thuật ra đời như thế nào. Nhưng là người tin tiến hoá luận Darwin nên tôi mạo muội cho rằng, nghệ thuật hội hoạ như thế trước hết là để phục vụ các lễ nghi mang tính tín ngưỡng của người nguyên thuỷ. Đến lượt mình, các lễ nghi đó lại có ý nghĩa sinh tồn. Có giả thuyết cho rằng tín ngưỡng bắt nguồn từ chính bản năng sinh tồn của con người xem Vũ trụ nghệ thuật, NXB Clarendon – Oxford, 1995. Như vậy ngay từ nguồn gốc phát sinh, nghệ thuật đã vì con người, đã vị nhân sinh, chứ không phải “bản chất của nghệ thuật là thuần tuý, thuần tuý vì chính nó”. Và nó chỉ có thể vì con người, vị nhân sinh khi nó đúng là nghệ thuật, tức khi nó vị nghệ thuật. Theo thiển ý, vị nghệ thuật là thuộc tính, vị nhân sinh là mục đích. Chỉ với thuộc tính đó mới đạt tới mục đích đó. Thực ra nhà văn của chúng ta tự mâu thuẫn đấy thôi, chứ ông cũng rất vị nhân sinh khi nhận định “tính người của con người bắt đầu khi nó biết sáng tạo vì chính nó, hoàn toàn vô tư, chẳng “vị” cái gì hết”. Con người “biết sáng tạo vì chính nó” tức biết sáng tạo vì con người, sáng tạo vị nhân sinh chứ chẳng lẽ lại vị con trâu hay con bò?.Nói như giới nghệ thuật học , nghệ thuật có các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ và giải trí. Điều đó chứng tỏ nghệ thuật có mục đích vị nhân sinh, vì con người, phục vụ con người. Và nghệ thuật chỉ có thể hoàn thành tốt điều cao quí nếu trước hết nó vị nghệ thuật, có tính nghệ thuật, đúng là nghệ thuật. Phải chăng đó chưa phải là những điều rất đỗi tự nhiên?Cuối cùng xin nhấn mạnh thêm một lần nữa rằng, nhân văn là thuộc tính căn bản của con người, một thuộc tính đã được gìn giữ và lưu truyền qua hàng triệu năm tiến hoá sinh học và tiến hoá văn hoá. Thuộc tính đó không hề mâu thuẫn với sức sáng tạo của toàn xã hội và của mỗi cá nhân. Và như mọi yếu tố khác của văn hoá như nền sản xuất, khoa học hay tôn giáo, nghệ thuật bao giờ cũng vì con người, phục vụ con người, cũng vị nhân sinh từ trong bản nhật lúc0859 SA 04/10/2016
Nghệ thuật vị nhân sinh tiếng Pháp l’art pour la vie là lý thuyết khẳng định bản chất xã hội của nghệ thuật, chủ trương nghệ thuật gắn với đời sống xã hội và chính trị, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật thoát ly cuộc sống, “nghệ thuật thuần tuý” coi hình thức là trên hết. Nghệ thuật vị nhân sinh là một luận điểm cơ bản và rất tổng quát của mỹ học duy vật. Bản thân nó bao gồm một hệ thống nhiều vấn đề rất trọng yếu như nghệ thuật và xã hội, chức năng của nghệ thuật, nghệ thuật và chính trị, tính giai cấp, tính nhân dân của nghệ thuật, sứ mệnh người nghệ sĩ,… mà việc giải quyết những vấn đề này lại gắn liền với những thành tựu của triết học và mỹ học duy vật của các thời đại. Do vậy, các cách lý giải trước khi có Chủ nghĩa Mác, kể cả của các nhà dân chủ cách mạng Nga ở thế kỷ XIX, đều chưa được triệt để và còn có những hạn chế nhất định. Dựa trên cơ sở triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử coi nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc thù, là loại sản xuất tinh thần đặc thù, chịu sự quy định của cơ sở kinh tế – xã hội, của đời sống tinh thần, tâm lý của xã hội, mỹ học ,mác-xít đã và đang giải quyết một cách khoa học, triệt để và toàn diện các vấn đề trên. Nghệ thuật vị nhân sinh là khẩu hiệu đấu tranh của những người theo quan điểm văn nghệ mác-xít ở nước ta chống lại phái “nghệ thuật vị nghệ thuật’’ trong cuộc tranh luận lớn về nghệ thuật thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936 – 1939. Trong cuộc tranh luận này, phái “vị nhân sinh” đã chứng minh rằng không có văn nghệ đứng ngoài đấu tranh giai cấp và không theo khuynh hướng nào. Nếu văn nghệ không làm lợi cho giai cấp này thì sẽ làm lợi cho giai cấp khác. Họ chủ trương, trong xã hội có áp bức bốc lột, nhà văn chân chính phải “đem ngòi bút lột trán cái xã hội hiện tại để cho dân chúng trông rõ nguồn gốc của mọi sự đau thương và để tìm lấy đường sống“. Mặc dù còn có thiếu sót, phái “nghệ thuật vị nhân sinh” đã giành được thắng lợi lớn. Lần đầu tiên ở Việt Nam, quan điểm văn nghệ mác-xít được truyền bá tương đối hệ thống, bước đầu đẩy lùi ảnh hưởng của khuynh hướng văn học thoát ly, cổ vũ các khuynh hướng văn học tiến bộ.
văn học vị nhân sinh